Chương trình EB-5

Nhằm mục đích mang lại lợi ích cho nền kinh tế Mỹ, Quốc hội đã thống nhất cho ra đời chương trình EB5 (Employment Base Fifth) vào năm 1990 bằng cách thu hút đầu tư từ nhà đầu tư nước ngoài đủ điều kiện. Theo chương trình, mỗi nhà đầu tư được yêu cầu chứng minh ít nhất 10 các công việc mới đã được tạo ra hoặc được lưu lại từ đầu tư EB-5, với số tiền đầu tư phải tối thiểu là $1 triệu, hoặc $500.000 cho các vùng nông thôn hoặc khu vực có thất nghiệp cao (TEA).

 

Kể từ khi cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008, nguồn vốn đầu tư vào Mỹ rất hạn chế và các thành phố liên tục đối mặt với những sự thiếu hụt ngân sách đáng kể. Do đó, vốn đầu tư EB-5 đóng vai trò như nguồn vốn quan trọng, được cung cấp cho các dự án phát triển kinh tế địa phương, đổi mới cộng đồng, tạo ra và hỗ trợ việc làm, cải tiến cơ sở hạ tầng và dịch vụ.

 

Một nghiên cứu kinh tế toàn diện cho thấy rằng trong năm 2013, các khoản đầu tư thông qua chương trình EB-5 đã đóng góp 3,58 tỷ USD vào GDP của Mỹ và hỗ trợ hơn 41.000 việc làm tại Mỹ. Hơn nữa, những người nhận công việc được tạo ra từ chương trình này được miễn thuế cá nhân.

 

Ở mỗi quốc gia khác nhau đều có các chương trình tương tự để thu hút đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, chương trình thu hút đầu tư của Mỹ luôn nghiêm ngặt hơn so với nhiều quốc gia khác, với những yêu cầu giảm thiểu rủi ro đáng kể cho các nhà đầu tư về mặt tài chính và tình trạng nhập cư của họ.

 

  • Các khoản đầu tư thông qua chương trình EB-5 của Mỹ đều có nguy cơ rủi ro tương tự như cách hình thức đầu tư vào cổ phiếu hoặc quỹ cổ phần. Và đương nhiên không có sự đảm bảo nào cho việc thu hồi vốn sau 5 năm.
  • Nếu đơn đăng ký được USCIS chấp thuận, nhà đầu tư EB-5 sẽ nhận được thẻ xanh có điều kiện hợp lệ cho hai năm. Để nhận được thị thực vĩnh viễn, các nhà đầu tư này phải chứng minh rằng các lợi ích kinh tế như việc tạo ra 10 việc làm đã đạt được từ các khoản đầu tư của họ.

 

Hàng năm, chương trình EB-5 chỉ chiếm dưới 1% thị thực do sở di trú Hoa Kỳ cấp, nhà đầu tư EB-5 được yêu cầu kiểm tra lý lịch và an ninh quốc gia như những người nộp đơn trong bất kỳ visa nào khác, và việc xin nhập quốc tịch Mỹ cũng chung tiêu chí với những người có thị thực khác. Cũng như các hình thức đầu tư khác tại Mỹ, các luật và quy định chống gian lận của Hoa Kỳ cũng được áp dụng vào quỹ đầu tư EB5.

GIỚI THIỆU TRUNG TÂM VÙNG EB5 (REGIONAL CENTER)

Năm 1992, nhận ra tầm ảnh hưởng từ chương trình EB5, Quốc hội Mỹ đã tạo ra các Trung Tâm Vùng (RC) với nhiệm vụ huy động nguồn vốn EB5 từ các nhà đầu tư nước ngoài tập trung cho các vùng được USCIS chỉ định để nhận vốn đầu tư. Hầu hết các Trung Tâm Vùng đều thuộc các khu vực có tỷ lệ thất nghiệp cao (TEA), những nơi có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn ít nhất 1,5 lần so với mức thất nghiệp trung bình tại Mỹ.

 

Trung Tâm Vùng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tạo ra việc làm từ chương trình EB5 bằng cách vừa đầu tư nguồn vốn đáng kể cho các dự án quy mô lớn, vừa phối hợp với các đơn vị phát triển nền kinh tế khu vực để sử dụng hiệu quả nguồn vốn rẻ từ EB5.

 

Trung Tâm Vùng sử dụng các mô hình phân tích kinh tế được phát triển bởi Bộ Thương Mại Mỹ để chứng minh số việc làm mục tiêu được tạo ra từ chương trình EB5 đúng với quy định của sở di trú Mỹ. Theo quy định, mỗi nhà đầu tư EB5 phải tạo ra được ít nhất 10 việc làm trực tiếp hoặc gián tiếp.

 

Các Trung Tâm Vùng có thể là các doanh nghiệp tư nhân hoặc cơ quan phát triển kinh tế nhà nước nằm trong khu vực có đầu tư mục tiêu được chỉ định. Để được xác định là một Trung Tâm Vùng, các doanh nghiệp phải nộp đầy đủ đơn đăng ký chi tiết cùng các chứng từ liên quan đến USCIS. Trong đơn đăng ký phải nêu rõ các loại hình doanh nghiệp sẽ nhận được vốn từ nhà đầu tư, cung cấp tài liệu chứng minh số công việc sẽ được tạo ra trực tiếp hoặc gián tiếp từ dự án EB5, cùng với những hiệu quả từ việc kinh doanh sẽ tác động tích cực đến nền kinh tế vùng đó. Tất cả những cam kết của Trung Tâm Vùng đều phải tuân theo quy định của Uỷ ban chứng khoán và giao dịch Hoa Kỳ.